.jpg?w=1130)
Chủ tịch Hồ Chí Minh
(1890 - 1969)
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình
nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng
chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ
của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh
đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh
chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho
đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.
Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.
Từ
năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh đến nhiều
nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân
lao động. Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực
của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng
thiêng liêng của họ. Hồ Chí Minh sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới và tích cực hoạt động nhằm đoàn kết nhân dân
các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
Năm
1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước
tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu
sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho
nhân dân các nước thuộc địa.
Dưới
ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin
về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự
Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia
nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người
cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc,
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Năm
1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái
Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Tháng
4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ
chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa. Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc đã được đưa vào tác phẩm
“Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản tại Paris năm 1925. Đây là một
công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, góp phần thức
tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.
Tháng
6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng
sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn
Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất
của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Tiếp đó
tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên
lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại hội, Nguyễn Ái Quốc
kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn
đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới
phong trào giải phóng dân tộc.
Tháng
11/1924, với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ
viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu
(Trung Quốc). Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc làm việc trong đoàn cố vấn
Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.
Năm
1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực
tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh
niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập
hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” - một văn kiện lý luận quan trọng
đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.
Tháng
5/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi
Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội
đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về châu
Á.
Từ tháng 7/1928 đến
tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu
nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Tháng
2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long,
thuộc Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn
tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội
tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam.
Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do.
Từ
năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu
các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường
đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo
phong trào cách mạng trong nước.
Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.
Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.
Tháng
5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành
lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức xây dựng lực lượng
vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Tháng
8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh
và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung
Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít
trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của
Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong
thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong
tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.
Tháng
9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh
chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân
của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng
5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây
theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội
Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra
Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí
Minh làm Chủ tịch.
Tháng
8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa
giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà
Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước
Việt Nam độc lập.
Ngay
sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một
lần nữa. Trước nạn ngoại xâm, Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo
vệ độc lập, tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất
cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, cùng Trung ương Đảng
lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn
diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.
Tháng
2/1951, tại Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng,
Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của
Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân
Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết
thúc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng
hoàn toàn miền Bắc.
Từ
năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân
dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc.
Tháng
9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Người được
bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quốc hội khóa II, khóa
III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm
1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá
miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi
khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng
định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn
nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá,
song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự
do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn!”.
Ngày 2//9/1969, Người mất tại Hà Nội.
Trước
khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di
chúc lịch sử, căn dặn những việc nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng
đất nước sau chiến tranh. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi
là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam
hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Thực
hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đánh
thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc
Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến
tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt
Nam.
Mùa xuân năm
1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn
thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện mong
ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ
kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ
xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và
phong trào giải phóng dân tộc. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, sáng lập Đảng
Cộng sản Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng
lập lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn
luôn gắn cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là
tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vô
cùng khiêm tốn, giản dị.
Năm
1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã
tôn vinh Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt
xuất của Việt Nam".
Ngày
nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng
Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và
dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
st